Chú trọng sản xuất chè theo quy trình VietGAP

Từ mô hình đầu tiên được thực hiện tại xã Hòa Bình (Đồng Hỷ) năm 2009, đến nay chè VietGAP đã có mặt ở nhiều địa phương trong tỉnh Thái Nguyên như: Đại Từ, T.P Thái Nguyên, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai… Tuy nhiên, quy trình sản xuất này vẫn chưa thực sự phổ biến và nhân rộng thành những vùng sản xuất hàng hóa, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều “nút thắt” cần được tháo gỡ.


Để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu, nhiều địa phương đã chú trọng đến phát triển các vùng sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng và hỗ trợ nông dân đầu tư thâm canh, trong đó áp dụng quy trình VietGAP từ năm 2009. Hiện, toàn tỉnh có trên 80% diện tích chè tại các vùng sản xuất chè tập trung sản xuất theo hướng VietGAP, trong đó có 46 mô hình chè được chứng nhận VietGAP với tổng diện tích khoảng 600ha (1.694 hộ tham gia), sản lượng chè búp tươi đạt khoảng 6.800 tấn.


Tại Tuyên Quang, năm 2014, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch trồng trọt đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định chè là cây trồng hàng hóa chủ lực có lợi thế của tỉnh, với mục tiêu ổn định diện tích chè toàn tỉnh khoảng 8.800ha. Đẩy mạnh nhân rộng quy trình sản xuất chè hữu cơ, VietGAP, đến năm 2020, diện tích chè tập trung sản xuất áp dụng quy trình VietGAP, chè hữu cơ đạt 2.390ha; cung cấp cho thị trường khoảng 33,48 nghìn tấn nguyên liệu để chế biến chè đặc sản, chè sạch phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 2 cơ sở được cấp chứng nhận VietGAP; diện tích chè đã được chứng nhận VietGAP là 15,6ha; có 20 doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong chế biến chè.


Tuy vậy, việc phát triển các mô hình sản xuất chè an toàn trên địa bàn các tỉnh vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do một số vùng diện tích trồng chè manh mún nên gặp nhiều hạn chế trong công tác hướng dẫn thực hiện theo đúng quy trình sản xuất. Nhận thức của người tiêu dùng về các sản phẩm của VietGAP còn hạn chế. Chưa định hướng chính xác về nhu cầu, số lượng và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chưa có nhiều doanh nghiệp đủ năng lực tham gia vào chuỗi sản xuất chè. Thanh, kiểm tra việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè mới chỉ thực hiện được tại các mô hình sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, vùng nguyên liệu của các công ty chè. Vẫn còn một bộ phận người sản xuất chưa nhận thức đầy đủ về an toàn thực phẩm, chạy theo năng suất, chưa chú trọng thời gian cách ly sau khi phun thuốc BVTV, bón phân.


Theo đánh giá của đại diện Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), việc chưa gắn giữa chế biến với sản xuất nguyên liệu là một trong những nguyên nhân khiến diện tích sản xuất chè an toàn chưa được nhân rộng. Nhiều cơ sở chế biến chè không có vùng nguyên liệu, thường không quan tâm đến kiểm soát chặt chất lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt kiểm soát dư lượng thuốc BVTV trên chè, giá cả thu mua không hợp lý nên không khuyến khích người sản xuất coi trọng chất lượng nguyên liệu. Tình trạng thu gom nguyên liệu qua nhiều trung gian không những làm tăng giá nguyên liệu đầu vào mà còn kéo dài thời gian bảo quản, làm giảm chất lượng nguyên liệu.


Trước hiện trạng đó, để vực dậy ngành chè, cần triển khai việc sản xuất và tiêu thụ chè an toàn bằng nhiều giải pháp cụ thể.Theo đó, cần tập trung vào giải pháp thay thế bằng các giống chè mới, năng suất, chất lượng cao và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Tiếp đến, đầu tư nâng cao trình độ cho lực lượng cán bộ quản lý và nông dân. Thông qua các lớp tập huấn, trang bị cho nông dân những kiến thức cơ bản để tăng năng suất, chất lượng chè, tạo ra sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.


Sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP bền vững là cơ hội mang lại lợi nhuận cao, tăng sức cạnh tranh và giá trị sản phẩm. Do đó, phải đặc biệt chú trọng xây dựng mô hình sản xuất, tiêu thụ chè an toàn với hệ thống, quy trình sản xuất nghiêm ngặt từ khâu chăm sóc, thu hái, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Với quy trình này, bắt buộc nông dân phải có sổ ghi chép theo dõi quá trình sản xuất: Đốn tỉa, bón phân, phun thuốc BVTV, tưới nước, thu hái, chế biến, tiêu thụ, và hạch toán. Bên cạnh đó, liên hệ với các doanh nghiệp uy tín cung ứng giống, phân bón, thuốc BVTV cho nông dân đảm bảo đúng thời gian, tiến độ và thời vụ sản xuất.


Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần xây dựng cơ chế ưu đãi khuyến khích các DN tham gia đầu tư sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chè an toàn. Đồng thời, đẩy mạnh kết nối cung - cầu, từng bước hoàn thiện phát triển mạng lưới tiêu thụ sản phẩm chè an toàn. Đặc biệt, cần có chính sách đầu tư xây dựng trạm cấp nước tập trung, hỗ trợ thiết bị bơm, tưới nước cho nông dân tại các địa phương trồng chè đang gặp khó khăn về nguồn nước.
(Nguồn Cổng thông tin điện tử Hội Nông dân Việt Nam)