Sản xuất chè cần đi theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP)

Diện tích chè cả nước năm 2015 đạt khoảng 132 nghìn ha (tăng 4,4 nghìn ha (3,4 %) so năm 2011, trong đó diện tích chè kinh doanh là 115 nghìn ha.

Hiện nay Lâm Đồng vẫn là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước với 21,9 nghìn ha, Thái Nguyên 20,8 nghìn ha, Hà Giang 20,5 nghìn ha, Phú Thọ 16,3 nghìn ha, Yên Bái 11,5 ha.

Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè, sản phẩm chè xuất khẩu chủ yếu là chè đen, chè xanh, chè ô long, chè nhài, chè đen OTC… với các thị trường chủ lực là Pakistan, Đài Loan, Trung Quốc, LB Nga, Mỹ, Indonesia…

Mặc dù là nước xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới (sau Kenya, Sri Lanka, Trung Quốc, Ấn Độ) và giá chè có tăng nhưng Việt Nam vẫn đang là một trong những nước có giá chè xuất khẩu thấp nhất. Hiện nay xuất khẩu chè đang có dấu hiệu sụt giảm, khối lượng xuất khẩu chè 7 tháng đầu năm 2015 ước đạt 65 nghìn tấn với giá trị đạt 111 triệu USD, giảm 8,9 % về khối lượng và giảm 5,7 % về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Nguyên nhân chính là mất an toàn thực phẩm và chất lượng chè chưa tốt, bên cạnh đó sản xuất chè hiện nay còn nhiều hạn chế về cơ cấu giống, kỹ thuật thâm canh, công nghệ thiết bị chế biến và khâu tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Chưa gắn giữa chế biến với sản xuất nguyên liệu, nhiều cơ sở chế biến chè không có vùng nguyên liệu, thường không quan tâm đến kiểm soát chặt chất lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là về an toàn thực phẩm. Việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh cho chè ở nhiều nơi còn khá tuỳ tiện, không đảm bảo thời gian cách ly…còn phổ biến ở nhiều vùng chè. Đây là vấn đề rất bức xúc trong sản xuất cần sớm khắc phục để có sản phẩm chè an toàn.

Vì vậy để ngành chè phát triển bền vững trước hết phải quy hoạch sản xuất, chế biến chè gắn với quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn, là cơ sở để nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng của ngành chè trong thời gian tới. Tổ chức sản xuất chè an toàn bằng việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP) nhằm tạo ra vùng nguyên liệu chè đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Hiện nay ở nước ta sản xuất chè đang áp dụng một số tiêu chuẩn GAP như: VietGAP, UTZ, Rainforest Alliances, GlobalGAP, tiêu chuẩn hữu cơ (EU, Mỹ). Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho chè được ban hành vào năm 2008, đến nay có 197 cơ sở sản xuất chè với diện tích 9.306,48 ha (diện tích chứng nhận VietGAP đang còn hiệu lực), trong đó tập trung ở một số tỉnh như: Yên Bái: 2.042 ha, Phú Thọ: 1.954,18 ha, Hà Giang: 1.063,7 ha, Lâm Đồng 363,4 ha, Thái Nguyên 565,4ha...

Ngoài sản xuất chè theo VietGAP một số tỉnh có mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn UTZ Certified, Rainforest Alliance, GlobalGAP, tiêu chuẩn hữu cơ khoảng trên 2.000 ha, một số mô hình được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn hữu cơ Châu Âu, tiêu chuẩn hữu cơ của Mỹ như chè tại Yên Bái, Lâm Đồng và Lào Cai đã được xuất khẩu. 

Tuy vậy việc áp dụng các tiêu chuẩn GAP còn gặp nhiều khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Do vậy cần tổ chức sản xuất theo hướng liên kết các cơ sở sản xuất nhỏ lại với nhau như tổ hợp tác, hợp tác xã, đồng thời liên kết với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ tạo thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ. Bên cạnh đó cần kiểm soát chặt chẽ đầu ra tránh việc trà trộn giữa chè được chứng nhận GAP với chè thông thường gây mất lòng tin của người tiêu dùng trong nước và làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng an toàn thực phẩm đối với chè xuất khẩu.